Sinh ra từ nhân dân, hoạt động vì nhân dân và suốt cuộc đời gắn bó với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và dân tộc một di sản tư tưởng vô cùng quý báu, trong đó tư tưởng “dân là gốc” giữ vị trí xuyên suốt. Tư tưởng “dân là gốc” đã trở thành nguyên lý xuyên suốt trong phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bến Nhà Rồng - nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5.6.1911, mở ra con đường cách mạng giành độc lập, tự do cho dân tộc. Ảnh: TTXVN
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Đó không chỉ là một quan điểm chính trị mà còn là triết lý phát triển, là quy luật thành công của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh sâu sắc tư tưởng đó. Từ khi ra đời đến khi tiến hành công cuộc đổi mới (1930 - 1986), trong vòng hơn nửa thế kỷ, có những giai đoạn, thời điểm, chúng ta phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, không chỉ “khó mười lần, trăm lần”, có khi “khó nghìn lần, vạn lần”, cách mạng thoái trào, “ngàn cân treo sợi tóc”, tưởng chừng không vượt qua được. Nhưng với hai nhân tố cơ bản nhất là sự lãnh đạo đúng đắn, vững vàng, trí tuệ, bản lĩnh của Đảng và sức mạnh của nhân dân, chúng ta đã làm nên kỳ tích lịch sử: Từ một nước thuộc địa giành được độc lập, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội.
Nói theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh là chúng ta một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại sự đổi mới từng bước cho đất nước, xã hội và con người. Chúng ta đã xây “lầu thắng lợi” từ gốc, nền tảng, sự đồng lòng, ủng hộ, ý nguyện, trí tuệ, sáng kiến, cội nguồn sức mạnh của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết : “Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[1].
Bước ngoặt đổi mới năm 1986 tiếp tục khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân. Trước yêu cầu phải đổi mới tư duy để đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, Đại hội VI của Đảng đã xác định bài học đầu tiên “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”[2].
Trên cơ sở khẳng định quần chúng là người làm nên lịch sử và Đảng chỉ có một mục đích là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, Đại hội VI ghi nhận, đánh giá rất cao vai trò của nhân dân: “Nhân dân ta rất cách mạng, có những phẩm chất rất quý báu, trải qua trên nửa thế kỷ chiến đấu liên tục, chịu đựng biết bao hy sinh, gian khổ, luôn luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm vì độc lập, tự do của Tổ quốc và vì chủ nghĩa xã hội.
Dưới ánh sáng Đại hội VI, Đảng ta thực hiện thành công nhiều việc, góp phần giải quyết tốt nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Đó là cơ sở để Đại hội VII của Đảng quyết định thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991). Cương lĩnh rút ra những bài học lớn, trong đó bài học thứ hai khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước” [3].
Từ đó đến nay, qua mỗi kỳ Đại hội, tư tưởng “dân là gốc” không ngừng được bổ sung, phát triển và cụ thể hóa phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn. Điều đó cho thấy đây không chỉ là bài học lịch sử mà đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định bài học lấy dân làm gốc, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng ta khẳng định: “Dân là gốc”; Thước đo cao nhất của mọi quyết sách.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) nhấn mạnh quan điểm của Đảng về sự hài lòng của nhân dân, cải thiện đời sống nhân dân là giá trị của nghị quyết, thước đo cao nhất việc thực hiện nghị quyết Đảng. Theo người đứng đầu Đảng ta, rút ngắn khoảng cách từ nghị quyết đến kết quả phải bằng những giá trị thiết thực mà nhân dân được thụ hưởng và bằng niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng.
Như vậy có thể thấy, trong tiến trình cách mạng Việt Nam và trong suốt 40 năm đổi mới, Đảng ta không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân là gốc”. Chính sự kiên định đó đã củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Lịch sử đã chứng minh, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Trong kỷ nguyên phát triển mới, bài học “dân là gốc” không chỉ tiếp tục là nền tảng tư tưởng mà còn là điều kiện quyết định để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và phồn vinh. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”[4].
.....
* PGS.TS Bùi Đình Phong - nguyên Giảng viên cao cấp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.502.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.29
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.5.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7 tr.270.
PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG