Đổi mới sáng tạo muốn trở thành động lực tăng trưởng không thể chỉ dựa vào ý tưởng, mà cần phòng thí nghiệm, thiết bị thử nghiệm, dữ liệu, hạ tầng số, nguồn nhân lực, cơ chế thương mại hóa và những trung tâm đủ năng lực kết nối nghiên cứu với thị trường. Nghị quyết số 65/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập một hệ thống chính sách hỗ trợ tương đối toàn diện cho những “điều kiện nền” ấy, qua đó cụ thể hóa cơ chế mới của Luật Phát triển đô thị và tạo thêm dư địa để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển Thành phố.
Ngày 22/9/2026, tại Kỳ họp thứ năm, HĐND Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 65/2026/NQ-HĐND quy định một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/10/2026.
Nghị quyết cụ thể hóa điểm a khoản 2 Điều 30 Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16. Trước khi được HĐND Thành phố quyết định, dự thảo đã được Ban Đô thị HĐND Thành phố thẩm tra tại Báo cáo số 152/BC-BĐT ngày 20/9/2026, đồng thời được UBND Thành phố tiếp thu, giải trình, hoàn thiện và được đại biểu HĐND Thành phố thảo luận tại kỳ họp.
Điểm đáng chú ý của chính sách lần này là Thành phố không chỉ hỗ trợ từng dự án nghiên cứu riêng lẻ, mà hướng đến xây dựng hệ sinh thái hạ tầng cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: từ không gian làm việc, phòng thí nghiệm, máy móc chuyên dụng đến trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, nền tảng số và các trung tâm đổi mới sáng tạo có quy mô cấp Thành phố, quốc gia, thậm chí hướng tới tầm cỡ quốc tế.
Hỗ trợ cả “hạ tầng vật lý” và “hạ tầng số”
Nghị quyết chia hạ tầng được hỗ trợ thành hai nhóm lớn.
Nhóm thứ nhất là hạ tầng vật lý, gồm: không gian làm việc, kết nối, trình diễn và trưng bày sản phẩm công nghệ; phòng thí nghiệm; cơ sở nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định, hiệu chuẩn, đánh giá, chứng nhận công nghệ; cơ sở chế tạo mẫu, sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện và trình diễn công nghệ.
Nhóm này còn bao gồm máy móc, thiết bị và phương tiện kỹ thuật chuyên dụng phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm, phân tích, đo lường, kiểm định và chế tạo mẫu, đặc biệt đối với công nghệ cao và công nghệ chiến lược.
Nhóm thứ hai là hạ tầng số và hệ thống số, bao gồm: hạ tầng kết nối, điện toán, lưu trữ, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng truyền dẫn máy tới máy và dữ liệu số, nền tảng số, phần mềm, phần cứng, thuật toán, mô hình xử lý và thiết bị kết nối phục vụ các dịch vụ và quy trình số, kể cả hoạt động điều hành theo thời gian thực.
Cách tiếp cận này phản ánh khá rõ thực tế của nền kinh tế số: một phòng thí nghiệm hiện đại nhưng thiếu dữ liệu, tính toán và kết nối số thì khó tạo thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh; ngược lại, hạ tầng số mạnh nhưng thiếu khả năng nghiên cứu, thử nghiệm và chế tạo thực tế cũng khó tạo ra sản phẩm công nghệ.

Đồng chí Võ Văn Minh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố và đồng chí Hoàng Tùng - Ủy viên Thường trực, Trưởng ban Đô thị HĐND Thành phố chủ trì điều hành phiên thảo luận Tổ đại biểu tại Kỳ họp Thứ 5 - HĐND khóa XI
Không hỗ trợ dàn trải: dự án phải chứng minh năng lực và khả năng duy trì
Nguồn lực ngân sách được đặt trong một hệ thống điều kiện tương đối chặt.
Dự án đề nghị hỗ trợ phải phù hợp với chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Thành phố trong từng thời kỳ. Chủ thể nhận hỗ trợ phải cam kết duy trì hoạt động của hạ tầng đúng mục đích đầu tư ít nhất 5 năm kể từ ngày hoàn thành và đưa vào vận hành.
Đối với hạ tầng vật lý, địa điểm phải nằm trên địa bàn TP.HCM. Đối với hạ tầng số, tổ chức hoặc doanh nghiệp có trụ sở chính tại Thành phố phải trực tiếp quản trị, vận hành, khai thác.
Nghị quyết còn yêu cầu dữ liệu phát sinh từ hạ tầng được hỗ trợ phải được lưu trữ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định pháp luật về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu.
Đặc biệt, chính sách ưu tiên những dự án có tỷ lệ vốn đối ứng cao, có mô hình liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức trong, ngoài nước; đồng thời khuyến khích phương án khai thác dùng chung, chia sẻ để nâng hiệu quả đầu tư.
Đây là một tư duy đáng chú ý: ngân sách không chỉ hỗ trợ “mua thiết bị cho một đơn vị” mà hướng đến hình thành tài sản và năng lực nghiên cứu có khả năng lan tỏa cho hệ sinh thái.
Doanh nghiệp muốn nhận hỗ trợ phải thực sự đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
Không phải mọi doanh nghiệp có nhu cầu mua máy móc công nghệ đều đương nhiên thuộc diện hỗ trợ. Tổ chức, doanh nghiệp phải được thành lập, hoạt động hợp pháp và có trụ sở chính tại TP.HCM; có đủ nguồn lực quản lý, vận hành tài sản sau hỗ trợ.
Thông thường, đơn vị phải có bộ phận nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo với ít nhất 10 nhân lực trình độ đại học trở lên, trong đó tối thiểu 50% là công dân Việt Nam.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiêu chí được thiết kế linh hoạt hơn: không bắt buộc phải thành lập riêng bộ phận nghiên cứu, nhưng phải có ít nhất 3 nhân lực từ trình độ đại học trở lên thực hiện hoạt động này, trong đó ít nhất một nửa là công dân Việt Nam.
Riêng doanh nghiệp còn phải chứng minh mức độ đầu tư thực chất cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo: tổng chi cho hoạt động này phải đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 3 năm tài chính liền kề, hoặc đạt từ 200 tỷ đồng mỗi năm trở lên trong 3 năm trước năm đề nghị hỗ trợ. Với doanh nghiệp hoạt động chưa đủ 3 năm, mức bình quân được tính trên toàn bộ thời gian hoạt động nhưng không ít hơn một năm tài chính đầy đủ.
Quy định này giúp chính sách hướng đến đúng những chủ thể thực sự có hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, thay vì biến hỗ trợ khoa học - công nghệ thành một hình thức hỗ trợ đầu tư thông thường.
Công nghệ chiến lược được ưu tiên mức hỗ trợ cao hơn
Mức hỗ trợ được phân tầng theo tính chất hạ tầng.
Đối với hạ tầng vật lý hoặc hạ tầng số thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành, mức hỗ trợ tối đa là 25 tỷ đồng cho mỗi nhóm hạ tầng đối với một tổ chức, doanh nghiệp.
Đối với hạ tầng không thuộc nhóm công nghệ chiến lược: hạ tầng vật lý được hỗ trợ tối đa 5 tỷ đồng; hạ tầng số, hệ thống số được hỗ trợ tối đa 3 tỷ đồng.
Dù thuộc nhóm nào, phần ngân sách Thành phố hỗ trợ không vượt quá 50% tổng kinh phí của toàn bộ dự án.
Điều đó có nghĩa Nhà nước hỗ trợ để thúc đẩy đầu tư, nhưng tổ chức, doanh nghiệp vẫn phải cùng tham gia bằng nguồn lực của chính mình. Cơ chế đồng tài trợ này vừa tạo động lực vừa buộc chủ thể thụ hưởng phải cân nhắc hiệu quả dự án thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách.
Tiền ngân sách đi theo tiến độ và kết quả, không “cấp xong là xong”
Nghị quyết quy định kinh phí hỗ trợ được cấp theo tiến độ và kết quả thực hiện, căn cứ hồ sơ, quyết định phê duyệt và hợp đồng.
Nếu dự án bị dừng hoặc không hoàn thành do lỗi chủ quan của tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hợp đồng và thực hiện biện pháp để thu hồi kinh phí đã cấp.
Đối với trường hợp không hoàn thành do nguyên nhân khách quan hoặc do rủi ro khoa học, công nghệ, việc xử lý được thực hiện theo pháp luật liên quan.
Sự phân biệt này rất cần thiết. Hoạt động nghiên cứu luôn có rủi ro, và không phải một kết quả khoa học không đạt kỳ vọng nào cũng đồng nghĩa với thất thoát ngân sách. Nhưng rủi ro khoa học khác hoàn toàn với việc thực hiện không đúng cam kết hoặc sử dụng nguồn lực thiếu trách nhiệm.
Hồ sơ đã được chuẩn hóa ngay trong Nghị quyết
Một thuận lợi cho doanh nghiệp là Nghị quyết không chỉ quy định chính sách mà còn ban hành bộ biểu mẫu đi kèm.
Hồ sơ hỗ trợ phát triển hạ tầng gồm đơn đăng ký, thuyết minh dự án, dự toán kinh phí, văn bản cam kết, báo cáo tài chính kiểm toán đối với doanh nghiệp, tài liệu chứng minh vốn đối ứng và các tài liệu về năng lực.
Phụ lục I của Nghị quyết ban hành sẵn bốn mẫu: đơn đề nghị hỗ trợ, thuyết minh dự án, dự toán kinh phí và văn bản cam kết. 7
Các bước xét chọn, thẩm định, phê duyệt, ký hợp đồng, cấp kinh phí, kiểm tra, nghiệm thu và thanh lý được thực hiện theo quy trình quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Như vậy, chính sách không dừng ở việc xác định “được hỗ trợ bao nhiêu”, mà đã hình thành một quy trình đủ để tổ chức thực hiện.
Không chỉ hỗ trợ hạ tầng, Thành phố đặt mục tiêu hình thành những trung tâm đổi mới sáng tạo có tầm vóc
Trụ cột thứ hai của Nghị quyết là hỗ trợ phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Điểm mới ở đây là chính sách được chia theo ba cấp độ phát triển: hướng đến tầm cỡ quốc tế, cấp quốc gia và cấp tỉnh.
Mức hỗ trợ không chỉ dành cho máy móc, cơ sở vật chất mà trải rộng từ hạ tầng, vận hành kỹ thuật ban đầu, đào tạo nhân lực, sở hữu trí tuệ đến thương mại hóa và hợp tác quốc tế.
Điều này cho thấy mục tiêu của chính sách không phải tạo ra một trung tâm chỉ có “tòa nhà và thiết bị” mà hướng đến một tổ chức có nhân lực, công nghệ, năng lực vận hành, tài sản trí tuệ, khả năng thương mại hóa và mạng lưới quốc tế.
Trung tâm hướng tới tầm cỡ quốc tế được hỗ trợ mạnh nhất
Đối với trung tâm hướng tới tầm cỡ quốc tế, mức hỗ trợ tối đa cho từng nội dung gồm: 100 tỷ đồng để mua sắm, nâng cấp hạ tầng, thiết bị nghiên cứu, thử nghiệm và vận hành; 10 tỷ đồng cho vận hành kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, thuê chuyên gia và quản trị dự án ban đầu; 10 tỷ đồng cho đào tạo nguồn nhân lực; 10 tỷ đồng cho tư vấn và xác lập, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước; 5 tỷ đồng cho thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và phát triển; 10 tỷ đồng cho hoạt động hợp tác quốc tế.
Điểm đáng lưu ý là đây là mức tối đa đối với từng nội dung, không có nghĩa mọi trung tâm đều mặc nhiên được nhận đủ các mức này.
Mức hỗ trợ thực tế phải căn cứ hiện trạng năng lực, mục tiêu, lộ trình phát triển, nhu cầu thực tế, dự toán được thẩm định, kết quả đầu ra và khả năng cân đối của ngân sách.
Phân tầng hỗ trợ đối với trung tâm cấp quốc gia và cấp tỉnh
Đối với trung tâm hướng đến cấp quốc gia, mức hỗ trợ tối đa cho hạ tầng, thiết bị là 70 tỷ đồng; các khoản vận hành kỹ thuật, đào tạo, sở hữu trí tuệ và hợp tác quốc tế tối đa 7 tỷ đồng cho từng nhóm; thương mại hóa tối đa 3,5 tỷ đồng.
Đối với trung tâm hướng đến cấp tỉnh, mức tương ứng là 50 tỷ đồng cho hạ tầng, thiết bị; tối đa 5 tỷ đồng cho từng nhóm vận hành kỹ thuật, đào tạo, sở hữu trí tuệ và hợp tác quốc tế; thương mại hóa tối đa 2,5 tỷ đồng.
Sự phân tầng này giúp chính sách gắn nguồn lực với mục tiêu phát triển thực tế của từng trung tâm, thay vì áp dụng một mức hỗ trợ đồng loạt.
Nhận hỗ trợ phải đi kèm cam kết nâng cấp thực chất
Các trung tâm được hỗ trợ phải có trụ sở chính tại TP.HCM hoặc có chi nhánh hạch toán độc lập tại Thành phố và thực hiện kê khai, nộp thuế. Đồng thời, trung tâm phải có năng lực quản lý kinh phí, tài sản và duy trì kết quả hỗ trợ; không thuộc trường hợp bị hạn chế nhận hỗ trợ ngân sách.
Quan trọng hơn, chủ thể phải cam kết lộ trình đạt cấp độ đã đăng ký: 5 năm đối với mục tiêu phát triển thành trung tâm tầm cỡ quốc tế hoặc cấp quốc gia; 3 năm đối với mục tiêu đạt cấp tỉnh.
Điều này chuyển chính sách từ hỗ trợ đơn thuần sang một dạng cam kết phát triển có mục tiêu và thời hạn.
Kết quả không đạt có thể phải hoàn trả kinh phí, thu hồi tài sản
Kinh phí dành cho trung tâm được cấp theo từng nội dung đã được phê duyệt và phải được sử dụng đúng mục tiêu, dự toán.
Kết quả nghiệm thu là căn cứ để xác định mức độ hoàn thành nghĩa vụ của các bên. Nếu kết quả không đạt, cơ quan quản lý có trách nhiệm xem xét việc hoàn trả kinh phí và thu hồi tài sản được đầu tư, trang bị, nâng cấp theo pháp luật. 7.KHCN.1273
Đây là một “van kiểm soát” cần thiết đối với chính sách có mức hỗ trợ ngân sách tương đối lớn.
Nguồn lực được bố trí từ ngân sách sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Kinh phí thực hiện Nghị quyết được phân bổ từ ngân sách Thành phố dành cho sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cấp về cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tổ chức hỗ trợ.
UBND Thành phố chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, công khai thông tin về chính sách, hiệu quả đầu tư và khai thác hạ tầng; đồng thời theo dõi, kiểm tra, phát hiện và xử lý hành vi trục lợi, thất thoát, lãng phí.
Định kỳ hằng năm, UBND Thành phố phải báo cáo HĐND Thành phố về kết quả thực hiện và hiệu quả chính sách.
Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu, đại biểu HĐND và MTTQ Việt Nam Thành phố tham gia giám sát.

Ban Đô thị HĐND Thành phố thẩm tra không chỉ “mức chi” mà cả hiệu quả của một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Nghị quyết số 65 có phạm vi rộng, mức hỗ trợ đối với một số nhóm nội dung khá lớn và tác động trực tiếp đến việc sử dụng nguồn lực công. Vì vậy, hoạt động thẩm tra của Ban Đô thị HĐND Thành phố có ý nghĩa đặc biệt.
Hồ sơ chính thức cho thấy dự thảo được xem xét trên cơ sở Tờ trình của UBND Thành phố, văn bản tiếp thu, giải trình và Báo cáo thẩm tra số 152/BC-BĐT ngày 20/9/2026 của Ban Đô thị trước khi HĐND Thành phố biểu quyết thông qua.
Với loại chính sách này, vấn đề không chỉ là ngân sách hỗ trợ bao nhiêu, mà quan trọng hơn là hỗ trợ cho ai, hỗ trợ cái gì, điều kiện nào đủ chặt, tài sản hình thành được quản lý ra sao và kết quả cuối cùng mang lại gì cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố.
Việc Nghị quyết gắn hỗ trợ với vốn đối ứng, thời gian duy trì tối thiểu, năng lực nghiên cứu, tỷ lệ chi R&D, kết quả đầu ra, nghiệm thu và khả năng thu hồi kinh phí khi không đạt yêu cầu cho thấy chính sách được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh nhưng không buông lỏng kiểm soát.
Đó cũng chính là giá trị của hoạt động thẩm tra: giúp một cơ chế mới của Luật Phát triển đô thị được chuyển thành chính sách có thể thực hiện, có thể kiểm tra và có thể đo lường hiệu quả.
Đầu tư cho “hạ tầng của tri thức” để tạo năng lực phát triển dài hạn
Nghị quyết số 65/2026/NQ-HĐND có hiệu lực từ ngày 01/10/2026. Nếu chỉ nhìn vào các mức 3 tỷ, 5 tỷ, 25 tỷ hay 100 tỷ đồng, có thể dễ xem đây đơn thuần là một chính sách hỗ trợ tài chính nhưng ý nghĩa sâu hơn nằm ở chỗ khác.
Thành phố đang dành nguồn lực để đầu tư vào hạ tầng của tri thức và đổi mới: phòng thí nghiệm, công nghệ chiến lược, hạ tầng dữ liệu, năng lực thử nghiệm, sở hữu trí tuệ, thương mại hóa, đào tạo chuyên gia và mạng lưới hợp tác quốc tế. Đó là những năng lực không tạo ra kết quả chỉ sau một ngày nhưng lại quyết định khả năng cạnh tranh của một đô thị trong nhiều năm.
Đối với doanh nghiệp, Nghị quyết mở ra cơ hội giảm một phần chi phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và công nghệ nhưng đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh năng lực, vốn đối ứng và cam kết sử dụng lâu dài.
Đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ lớn hơn đi cùng mục tiêu cao hơn và trách nhiệm rõ hơn.
Đối với cơ quan nhà nước, thách thức là bảo đảm mỗi đồng ngân sách hỗ trợ phải hình thành được năng lực nghiên cứu, kết quả đổi mới hoặc giá trị sử dụng có thể kiểm chứng, chứ không chỉ dừng ở việc mua sắm tài sản.
Từ khâu thẩm tra của Ban Đô thị HĐND Thành phố đến quyết nghị của HĐND và quá trình tổ chức thực hiện, Nghị quyết số 65 cho thấy một lựa chọn chính sách đáng chú ý của TP.HCM: không chỉ thu hút công nghệ về Thành phố, mà từng bước xây dựng chính năng lực tạo ra, thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ tại Thành phố.
Nếu cơ chế này được thực hiện đúng đối tượng, minh bạch và gắn chặt với kết quả đầu ra, nguồn lực công sẽ không chỉ hỗ trợ một vài dự án hay trung tâm riêng lẻ, mà có thể góp phần tạo nên hạ tầng chung cho một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh và khả năng phát triển dài hạn./.
Châu Vũ - Phạm Hương