Không ít kết quả nghiên cứu tốt dừng lại ở phòng thí nghiệm; không ít công nghệ có khả năng ứng dụng nhưng doanh nghiệp còn ngại chi phí tiếp nhận; cũng có những sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng được tạo ra nhưng chưa được bảo hộ, khai thác hoặc bảo vệ hiệu quả. Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hồ Chí Minh tiếp cận những khoảng trống ấy theo một chuỗi tương đối hoàn chỉnh: hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ, thúc đẩy chuyển giao, hỗ trợ xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đây là một bước cụ thể hóa quan trọng Luật Phát triển đô thị, hướng nguồn lực công vào quá trình biến tri thức và công nghệ thành năng lực cạnh tranh thực sự của Thành phố.
Ngày 22/9/2026, tại Kỳ họp thứ năm, HĐND Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND quy định một số cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo; chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghị quyết cụ thể hóa điểm c khoản 2 Điều 30 Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16. Trước khi HĐND Thành phố quyết định, hồ sơ đã được UBND Thành phố tiếp thu, giải trình, hoàn thiện và được Ban Đô thị HĐND Thành phố thẩm tra tại Báo cáo số 153/BC-BĐT ngày 20/9/2026 cùng với quá trình thảo luận của các đại biểu HĐND tại kỳ họp.
Một chính sách bao phủ từ nghiên cứu đến bảo vệ thành quả sáng tạo
Phạm vi đối tượng của Nghị quyết khá rộng nhưng gắn với từng nhóm chính sách cụ thể. Đó là tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ; tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân xác lập quyền sở hữu trí tuệ; cơ sở giáo dục đại học và các chủ thể tham gia khai thác quyền; các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Cách thiết kế này cho thấy Thành phố không xem khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ là những khâu tách rời. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có giá trị kinh tế khi có khả năng phát triển thành công nghệ, được chuyển giao, được bảo hộ, được khai thác và khi cần thiết phải được bảo vệ trước hành vi xâm phạm.
Nghị quyết đồng thời đặt ra nguyên tắc chung: hỗ trợ phải khách quan, công khai, minh bạch, thủ tục đơn giản, nhanh chóng; không hỗ trợ trùng một nội dung từ ngân sách nhà nước. Chủ thể nhận hỗ trợ phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ và sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích.
Công nghệ chiến lược được hỗ trợ mạnh ngay từ khâu nghiên cứu
Một chính sách nổi bật nằm tại Điều 4. Doanh nghiệp, tổ chức được giao chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm phát triển công nghệ thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành được ngân sách Thành phố hỗ trợ 100% kinh phí đối với một số nhóm chi phí trực tiếp.
Đó là chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, mẫu vật, dụng cụ, phụ tùng, năng lượng, tài liệu, dữ liệu, quyền sở hữu và sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ; chi phí mua hoặc thuê máy móc, thiết bị, phần mềm, hệ thống công nghệ và hệ thống tích hợp kỹ thuật số; cũng như chi phí thuê phòng thí nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống tính toán hiệu năng cao và dịch vụ điện toán đám mây.
Đây là nhóm chi phí thường rất lớn trong nghiên cứu công nghệ hiện đại. Vì vậy chính sách không hỗ trợ chung chung mà tập trung vào những đầu vào thực sự cần thiết để nhà khoa học và doanh nghiệp có thể triển khai nhiệm vụ.
Các khoản chi còn lại trong tổng dự toán tiếp tục được bảo đảm theo cơ chế hỗ trợ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của pháp luật hiện hành; trình tự thực hiện cũng tuân theo quy trình quản lý nhiệm vụ đổi mới sáng tạo.
Chuyển giao công nghệ: hỗ trợ 100% chi phí cần thiết, tối đa 200 triệu đồng mỗi công nghệ mỗi năm
Một công nghệ tốt chỉ tạo ra tác động khi được đưa vào sản xuất, kinh doanh.
Nghị quyết hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi giới chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý, tư vấn chuyển giao, đánh giá và thẩm định giá công nghệ, đồng thời hỗ trợ đào tạo nhân lực để tiếp nhận công nghệ.
Mức hỗ trợ là 100% chi phí thực tế đối với các nội dung được phép nhưng không quá 200 triệu đồng cho một công nghệ trong một năm.
Tuy nhiên, điều kiện không hề dễ dãi; Doanh nghiệp phải có trụ sở chính tại TP.HCM. Công nghệ tiếp nhận phải tạo ra sản phẩm có khả năng nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí, giảm ô nhiễm hoặc có tính đổi mới so với sản phẩm đang có trên thị trường.
Công nghệ chuyển giao phải thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao; hợp đồng chuyển giao phải đăng ký khi pháp luật yêu cầu; doanh nghiệp chuyển giao và doanh nghiệp nhận chuyển giao không được có quan hệ công ty mẹ - công ty con. Đặc biệt, hợp đồng chuyển giao và các hợp đồng dịch vụ được hỗ trợ phải được ký và phát sinh hiệu lực kể từ khi Nghị quyết có hiệu lực.
Như vậy, chính sách hướng tới những giao dịch công nghệ thực chất, có tính độc lập và tạo ra kết quả có thể kiểm chứng.

Doanh nghiệp phải chứng minh công nghệ đã mang lại hiệu quả
Nghị quyết không chỉ kiểm tra hợp đồng và hóa đơn. Trong hồ sơ hỗ trợ chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp còn phải có báo cáo kết quả ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và đánh giá hiệu quả kinh tế mang lại.
Biểu mẫu kèm Nghị quyết yêu cầu doanh nghiệp so sánh trước và sau khi áp dụng công nghệ về năng suất, chất lượng, chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận, tác động môi trường và mức độ đổi mới so với sản phẩm trên thị trường.
Đây là một điểm đáng chú ý về quản trị chính sách: ngân sách hỗ trợ không chỉ dựa vào việc đã chi tiền mua dịch vụ, mà còn yêu cầu chứng minh hiệu quả của việc tiếp nhận công nghệ.
Thủ tục hỗ trợ chuyển giao công nghệ có thời hạn cụ thể
Doanh nghiệp chỉ cần lập 01 bộ hồ sơ, có thể nộp trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng dịch vụ công đến Sở Khoa học và Công nghệ.
Trong vòng 5 ngày làm việc, Sở kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ.
Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 20 ngày làm việc, Sở thành lập hội đồng tư vấn thẩm định hoặc tự tổ chức thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Sau khi có quyết định phê duyệt, trong vòng 10 ngày làm việc, kinh phí được thực hiện thủ tục cấp phát, giải ngân trực tiếp cho doanh nghiệp.
Việc quy định rõ thời gian xử lý giúp doanh nghiệp có thể dự liệu được quy trình, thay vì chờ đợi không xác định.
Tài sản trí tuệ được hỗ trợ từ khi xác lập quyền
Nghị quyết dành một phần quan trọng cho việc hình thành quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu và giống cây trồng.
Các khoản được hỗ trợ gồm phí, lệ phí phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền, chi phí đại diện và tư vấn sở hữu trí tuệ, khảo nghiệm giống cây trồng cùng các chi phí trực tiếp, hợp pháp liên quan.
Với việc xác lập quyền trong nước, mức hỗ trợ tối đa gồm: 80 triệu đồng cho mỗi bằng độc quyền sáng chế thuộc công nghệ hoặc sản phẩm công nghệ chiến lược; 30 triệu đồng cho một bằng độc quyền sáng chế thông thường; 30 triệu đồng cho bằng bảo hộ giống cây trồng; 15 triệu đồng cho bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp; 15 triệu đồng cho giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; 15 triệu đồng cho giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.
Khuyến khích đưa tài sản trí tuệ Việt Nam ra thị trường quốc tế
Đối với xác lập quyền ở nước ngoài, mức hỗ trợ cao hơn. Sáng chế thuộc danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược được hỗ trợ tối đa 100 triệu đồng/bằng.
Sáng chế thông thường, giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và nhãn hiệu được hỗ trợ tối đa 60 triệu đồng cho mỗi văn bằng hoặc giấy chứng nhận.
Quy định này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp muốn vươn ra thị trường quốc tế. Khi sản phẩm Việt Nam đi ra nước ngoài mà không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở thị trường mục tiêu, lợi thế công nghệ và thương hiệu có thể bị suy giảm rất nhanh.
Vì vậy, hỗ trợ đăng ký ở nước ngoài không chỉ là hỗ trợ một thủ tục pháp lý, mà còn góp phần hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng “hàng rào pháp lý” cho tài sản trí tuệ khi mở rộng thị trường.

Đồng chí Hoàng Tùng - Ủy viên Thường trực, Trưởng ban Đô thị HĐND Thành phố báo cáo kết quả thẩm tra các dự thảo Nghị quyết thuộc lĩnh vực Đô thị tại Kỳ họp thứ 5 HĐND Thành phố khóa XI
Không phải có văn bằng là đương nhiên được hỗ trợ
Nghị quyết đặt điều kiện để hạn chế tình trạng đăng ký quyền nhưng không đưa vào khai thác.
Đối với kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu và giống cây trồng, người đề nghị hỗ trợ phải có tài liệu chứng minh đang sử dụng, khai thác quyền đó vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Chủ thể đề nghị phải là chủ sở hữu hợp pháp của văn bằng tại thời điểm xét hỗ trợ; tổ chức, doanh nghiệp phải có trụ sở chính tại TP.HCM, hộ kinh doanh có trụ sở tại Thành phố và cá nhân phải có địa chỉ thường trú tại Thành phố.
Có nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ trong cùng năm thì có thể đề nghị hỗ trợ nhiều đối tượng nhưng mỗi loại văn bằng hoặc giấy chứng nhận chỉ được hỗ trợ một lần trong năm.
Phân cấp đầu mối để người dân và doanh nghiệp biết rõ nơi nộp hồ sơ
Một điểm rất thực tế của Nghị quyết là xác định rõ cơ quan tiếp nhận theo từng loại quyền.
Sở Khoa học và Công nghệ tiếp nhận hồ sơ liên quan đến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp nhận hồ sơ đối với giống cây trồng.
Đối với nhãn hiệu, đầu mối là UBND xã, phường, đặc khu.
Người dân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến. Hồ sơ hợp lệ được tổng hợp, xét duyệt định kỳ hằng quý; thời hạn giải quyết là 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Quy định rõ đầu mối như vậy giúp chính sách dễ tiếp cận hơn, nhất là đối với hộ kinh doanh và cá nhân - những chủ thể trước đây có thể cảm thấy sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực xa với hoạt động thường ngày.
Từ “đăng ký quyền” sang “khai thác tài sản trí tuệ”
Nếu chỉ dừng ở hỗ trợ đăng ký văn bằng thì tài sản trí tuệ chưa chắc đã tạo ra giá trị. Vì vậy, nghị quyết dành riêng Điều 7 cho khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Thành phố hỗ trợ các hoạt động bồi dưỡng về quản trị, định giá và bảo vệ tài sản trí tuệ; xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu và các quyền khác phục vụ quản lý cũng như cộng đồng.
Các cơ sở giáo dục đại học được hỗ trợ xây dựng hoặc nhận chuyển giao chương trình quốc tế về đào tạo sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, Thành phố hỗ trợ đánh giá, định giá, xác định tiềm năng khai thác và xây dựng phương án chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế thuộc công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo còn được hỗ trợ xây dựng, hoàn thiện và vận hành hệ thống quản trị tài sản trí tuệ nội bộ, gắn sở hữu trí tuệ với nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ và quản trị rủi ro pháp lý.
Đây là sự thay đổi đáng chú ý về tư duy: sở hữu trí tuệ không chỉ là một “tờ bằng” treo trên tường mà phải trở thành tài sản có thể định giá, chuyển giao, thương mại hóa và quản trị.
Có nhóm được hỗ trợ 100% kinh phí khai thác quyền sở hữu trí tuệ
Các hoạt động đào tạo, xây dựng hệ thống thông tin, chương trình đào tạo quốc tế và đánh giá, định giá, chuẩn bị phương án khai thác sáng chế thuộc các nhóm quy định được hỗ trợ 100% kinh phí.
Riêng doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị tài sản trí tuệ nội bộ được hỗ trợ một lần, tối đa 200 triệu đồng/doanh nghiệp.
Tất nhiên, hỗ trợ không mặc nhiên. Hoạt động phải được xây dựng thành nhiệm vụ phù hợp và được cơ quan quản lý xét chọn; chương trình đào tạo quốc tế phải cam kết đưa vào giảng dạy, tập huấn ít nhất 3 năm; hệ thống quản trị tài sản trí tuệ phải có đề án được phê duyệt.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số
Một trong những phần mang hơi thở của kinh tế số rõ nhất là Điều 8.
Thành phố hỗ trợ ứng dụng công nghệ để nhận diện, giám sát, phát hiện, xác minh và cảnh báo nguy cơ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên nền tảng số, mạng xã hội và thương mại điện tử.
Nghị quyết cũng hỗ trợ các giải pháp truy xuất nguồn gốc, định danh, xác thực sản phẩm, chống hàng giả, chống sao chép; xây dựng hệ thống, nền tảng, cơ sở dữ liệu và công cụ số phục vụ quản lý, giám sát và thực thi quyền.
Các giải pháp cung cấp thông tin, dữ liệu, báo cáo phân tích phục vụ thanh tra, kiểm tra và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng nằm trong phạm vi hỗ trợ.
Mức hỗ trợ có thể lên tới 100% kinh phí đối với các nội dung này nhưng tổ chức, doanh nghiệp phải chứng minh năng lực chuyên môn, tính khả thi, khả năng ứng dụng thực tế và bảo đảm yêu cầu về an toàn thông tin, dữ liệu và quyền riêng tư.
Trong bối cảnh hàng giả, sao chép sản phẩm và xâm phạm quyền trên thương mại điện tử ngày càng tinh vi, việc đưa công nghệ vào bảo vệ sở hữu trí tuệ là một bước đi có tính thực tiễn cao.
Nguồn lực từ ngân sách đi kèm kiểm soát và giám sát
Kinh phí thực hiện chính sách được bố trí từ nguồn chi sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của ngân sách TP.HCM.
UBND Thành phố có trách nhiệm tổ chức thực hiện, bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, mức hỗ trợ, tiêu chí và thủ tục; đồng thời kiểm tra, đánh giá, phát hiện và xử lý hành vi trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí; những vấn đề khó khăn hoặc cần điều chỉnh phải được tổng hợp, báo cáo HĐND Thành phố xem xét, quyết định.
Quá trình tổ chức thực hiện còn chịu sự giám sát của Thường trực HĐND Thành phố, các Ban HĐND, Tổ đại biểu, đại biểu HĐND Thành phố và MTTQ Việt Nam Thành phố.
Dấu ấn thẩm tra của Ban Đô thị: nối các mắt xích để tri thức trở thành giá trị
Nếu Nghị quyết 64 tập trung vào ươm tạo các dự án khởi nghiệp và Nghị quyết 65 hướng tới hạ tầng, trung tâm đổi mới sáng tạo thì Nghị quyết 62 xử lý một khâu khác nhưng không kém phần quan trọng: công nghệ và tài sản trí tuệ được hình thành, chuyển giao, khai thác và bảo vệ như thế nào.
Hồ sơ chính thức ghi nhận trước khi HĐND Thành phố biểu quyết, dự thảo được Ban Đô thị HĐND Thành phố thẩm tra tại Báo cáo số 153/BC-BĐT ngày 20/9/2026.
Đối với một chính sách liên quan nhiều loại chủ thể, nhiều loại quyền và nhiều phương thức hỗ trợ, thẩm tra không thể chỉ dừng ở việc xem mức tiền hỗ trợ cao hay thấp. Điều cần quan tâm hơn là chính sách có đúng đối tượng, tạo ra đầu ra thực chất, tránh thanh toán trùng, bảo đảm thủ tục khả thi và kết nối được nghiên cứu với thị trường hay không.
Việc Nghị quyết cuối cùng bao quát cả nghiên cứu công nghệ chiến lược, chuyển giao, xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho thấy một cách tiếp cận tương đối trọn vẹn đối với quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị.
Đó cũng là dấu ấn đáng chú ý của công tác tham mưu, thẩm tra chính sách: không nhìn từng cơ chế riêng lẻ mà đặt chúng vào một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chung của Thành phố.
Chuyển tiếp rõ ràng, không làm gián đoạn chính sách đang thực hiện
Nghị quyết số 62 có hiệu lực từ 01/10/2026; cùng thời điểm này, Nghị quyết số 26/2022/NQ-HĐND về hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ hết hiệu lực.
Đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ đã được phê duyệt dự toán và ký hợp đồng trước ngày Nghị quyết mới có hiệu lực thì tiếp tục quyết toán theo quy định tại thời điểm ký hợp đồng. Nếu nhiệm vụ đã được phê duyệt danh mục nhưng chưa phê duyệt dự toán, việc lập, thẩm định và phê duyệt dự toán có thể áp dụng các nội dung hỗ trợ mới tại Điều 4.
Riêng hồ sơ hỗ trợ đăng ký sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu hoặc giống cây trồng đã được tiếp nhận trước ngày 01/10/2026 tiếp tục giải quyết theo Nghị quyết số 26/2022/NQ-HĐND.
Cơ chế chuyển tiếp này giúp bảo đảm quyền lợi của các chủ thể đã tham gia chính sách cũ, đồng thời đưa cơ chế mới vào áp dụng mà không tạo khoảng trống.
Để sản phẩm của trí tuệ không dừng lại ở phòng nghiên cứu
Giá trị đáng chú ý nhất của Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND không nằm riêng ở mức hỗ trợ 200 triệu đồng cho chuyển giao công nghệ, 100 triệu đồng cho sáng chế chiến lược đăng ký ở nước ngoài hay mức hỗ trợ tới 100% cho một số hoạt động.
Điểm quan trọng hơn là Thành phố đã nối tương đối đầy đủ các khâu của một quá trình tạo giá trị: “Nghiên cứu - phát triển công nghệ - chuyển giao - xác lập quyền - khai thác tài sản trí tuệ - bảo vệ thành quả sáng tạo”.
Đối với nhà nghiên cứu, cơ chế mới tạo thêm điều kiện để công nghệ có cơ hội bước ra khỏi phòng thí nghiệm.
Đối với doanh nghiệp, chính sách giảm một phần chi phí tiếp nhận công nghệ và bảo vệ tài sản vô hình, nhưng đồng thời yêu cầu phải chứng minh hiệu quả thực tế.
Đối với hộ kinh doanh và cá nhân, chính sách sở hữu trí tuệ trở nên gần hơn khi ngay cả nhãn hiệu cũng có cơ chế hỗ trợ và đầu mối tiếp nhận tại chính quyền cấp xã.
Đối với cơ quan quản lý, trách nhiệm lớn hơn là bảo đảm kinh phí thực sự đi vào những kết quả có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và tạo giá trị cho Thành phố.
Và từ góc độ HĐND Thành phố, quá trình thẩm tra của Ban Đô thị trước khi chính sách được quyết nghị cho thấy vai trò của cơ quan dân cử không chỉ ở việc thông qua một mức hỗ trợ mà còn ở việc góp phần hoàn thiện một hành lang pháp lý để tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ thực sự tham gia vào tăng trưởng.
Khi một sáng chế có thể được bảo hộ, một công nghệ có thể được chuyển giao, một tài sản trí tuệ có thể được định giá và một sản phẩm sáng tạo có thể được bảo vệ trên cả môi trường số, nguồn lực của khoa học và công nghệ mới thực sự được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh - Đó chính là tinh thần mà Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND hướng đến trong quá trình cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Châu Vũ - Phạm Hương