CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

hdnd.hochiminhcity.gov.vn

Từ góc nhìn thẩm tra của Ban Đô thị HĐND Thành phố: Quản lý nguồn thải bằng quan trắc tự động, liên tục - bảo vệ môi trường TP.HCM từ sớm, từ xa

  • Lượt xem - 260

Trong một đô thị đặc biệt với quy mô dân số, sản xuất và hoạt động kinh tế lớn như TP. Hồ Chí Minh, bảo vệ môi trường không thể chỉ trông chờ vào những đợt kiểm tra định kỳ hay xử lý sau khi ô nhiễm đã xảy ra. Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố đưa ra một bước chuyển quan trọng: xác định cụ thể những nguồn nước thải, bụi, khí thải công nghiệp phải được quan trắc tự động, liên tục, qua đó từng bước chuyển quản lý môi trường từ kiểm tra theo thời điểm sang giám sát thường xuyên bằng dữ liệu.

Ngày 22 tháng 9 năm 2026, HĐND Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI, tại Kỳ họp thứ năm, đã thông qua Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND quy định đối tượng, mức lưu lượng xả nước thải, bụi, khí thải công nghiệp phải áp dụng biện pháp quan trắc tự động, liên tục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.

Đây là một trong những nghị quyết của Thành phố triển khai trực tiếp Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16. Cụ thể, Nghị quyết quy định chi tiết điểm a khoản 4 Điều 42 của Luật, qua đó xác định rõ đối tượng và ngưỡng phát thải phải chịu sự giám sát tự động, liên tục.

Trước khi được HĐND Thành phố xem xét, quyết định, dự thảo Nghị quyết đã được Ban Đô thị HĐND Thành phố thẩm tra tại Báo cáo số 146/BC-BĐT ngày 20/9/2026, kết hợp với tiếp thu ý kiến thảo luận của các đại biểu tại kỳ họp. Điều đó cho thấy một chính sách tuy chỉ gồm 6 điều nhưng đằng sau là yêu cầu cân nhắc rất kỹ giữa bảo vệ môi trường, khả năng thực hiện của doanh nghiệp và hiệu quả quản lý nhà nước.

Đồng chí Võ Văn Minh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Thường trực HĐND Thành phố dự và chỉ đạo tại phiên khảo sát của Ban Đô thị HĐND Thành phố đối với Quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh

Từ kiểm tra định kỳ đến giám sát nguồn thải liên tục

Điểm nổi bật của Nghị quyết là cách tiếp cận quản lý môi trường. Trước đây, việc kiểm soát nguồn thải thường gắn nhiều với kiểm tra, lấy mẫu và đánh giá tại những thời điểm nhất định. Với quan trắc tự động, liên tục, dữ liệu phát thải có thể được ghi nhận trong suốt quá trình hoạt động của nguồn thải, tạo điều kiện để cơ quan quản lý nhận biết biến động bất thường, theo dõi mức độ tuân thủ và có phản ứng kịp thời hơn.

Nghị quyết áp dụng đối với chủ dự án đầu tư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; cụm công nghiệp; hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu kinh tế và các đối tượng có hoạt động xả nước thải, bụi, khí thải công nghiệp thuộc phạm vi Nghị quyết. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động quan trắc tự động, liên tục cũng thuộc phạm vi áp dụng.

Tuy nhiên, Nghị quyết không điều chỉnh toàn bộ vấn đề kỹ thuật của hệ thống quan trắc. Các yêu cầu về thông số quan trắc, lắp đặt, vận hành, kiểm định, hiệu chuẩn, truyền và tiếp nhận dữ liệu tiếp tục thực hiện theo pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan. Cách lập quy này giúp Nghị quyết tập trung đúng vào phần thẩm quyền mà Luật Phát triển đô thị giao cho Thành phố.

Ba ngưỡng quan trọng đối với nước thải: 400 m³ và 800 m³ mỗi ngày

Đối với nước thải, Phụ lục I của Nghị quyết xác định rõ ba nhóm:

Nhóm thứ nhất: Khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp và hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu kinh tế phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục khi lưu lượng xả nước thải từ 400 m³/ngày, tính trong 24 giờ, trở lên.

Nhóm thứ hai: Các dự án, cơ sở thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật cũng áp dụng ngưỡng từ 400 m³/ngày trở lên.

Nhóm thứ ba: Đối với dự án, cơ sở không thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nêu trên, ngưỡng áp dụng là từ 800 m³/ngày trở lên.

Ở đây có thể thấy chính sách không áp dụng đồng loạt cho mọi cơ sở. Hai yếu tố được đặt cạnh nhau là quy mô nguồn thải và mức độ nguy cơ gây ô nhiễm. Cơ sở có nguy cơ cao chịu ngưỡng giám sát thấp hơn; cơ sở ít rủi ro hơn chỉ thuộc diện bắt buộc khi lưu lượng xả lớn hơn.

Đây là cách tiếp cận hợp lý nếu nhìn từ cả hai phía: quản lý môi trường phải đủ chặt, nhưng nghĩa vụ đầu tư hệ thống quan trắc cũng cần đặt đúng nơi có nguy cơ và quy mô phát thải đáng kể.

Một chi tiết doanh nghiệp cần lưu ý là mức lưu lượng nước thải không được xác định tùy theo lượng xả tại một ngày bất kỳ, mà căn cứ vào tổng công suất thiết kế của tất cả công trình, thiết bị xả nước thải ra môi trường ghi trong giấy phép môi trường.

Khí thải công nghiệp: Tập trung vào những lĩnh vực và nguồn phát thải lớn

Nếu Phụ lục I tương đối ngắn thì Phụ lục II đi vào khá chi tiết từng nhóm nguồn bụi, khí thải công nghiệp.

Nghị quyết tập trung vào 8 nhóm lĩnh vực, loại hình sản xuất lớn, gồm sản xuất gang, thép, luyện kim; hóa chất và phân bón; lọc, hóa dầu; tái chế và xử lý chất thải; than cốc, khí than; nhiệt điện; xi măng và một số dự án, cơ sở khác có thiết bị đốt, nung, gia nhiệt sử dụng nhiên liệu có nguy cơ phát sinh khí thải đáng kể.

Đối với sản xuất gang, thép, luyện kim, các nguồn như lò điện hồ quang, lò điện cảm ứng, lò tinh luyện, máy thiêu kết, lò chuyển thổi ôxy, thiết bị đúc và một số lò nung, gia nhiệt sử dụng dầu FO hoặc than thuộc diện quan trắc khi tổng lưu lượng các công trình, thiết bị cùng loại đạt từ 80.000 m³/giờ trở lên.

Đối với sản xuất hóa chất vô cơ cơ bản, phân bón và một số hóa chất bảo vệ thực vật, các thiết bị tái sinh xúc tác, xử lý SO₂, thu hồi lưu huỳnh, thiết bị đốt CO, sản xuất axit sulfuric, axit phosphoric, hợp chất flo, axit clohidric và các thiết bị liên quan cũng áp dụng ngưỡng từ 80.000 m³/giờ trở lên, tính theo tổng lưu lượng của các công trình, thiết bị cùng loại.

Lọc, hóa dầu được xác định là một nhóm riêng. Các thiết bị gia nhiệt, xử lý khí đuôi, đốt khí CO trong công đoạn tái sinh xúc tác thuộc diện phải quan trắc khi đạt ngưỡng 80.000 m³/giờ trở lên.

Một góc khu công nghệ cao của TP. Hồ Chí Minh

Quản lý chặt các nguồn phát thải từ hoạt động xử lý chất thải

Đối với lĩnh vực tái chế, xử lý chất thải, Nghị quyết đặt ra những ngưỡng riêng phù hợp với từng loại thiết bị.

Lò đốt chất thải nguy hại và lò đốt chất thải y tế phải áp dụng quan trắc tự động, liên tục khi tổng công suất các lò từ 1.600 kg/giờ trở lên.

Đối với lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, lò đốt chất thải rắn công nghiệp thông thường, ngưỡng là tổng công suất từ 4.000 kg/giờ trở lên.

Các lò nung xi măng đồng xử lý chất thải, lò hơi hoặc lò gia nhiệt sử dụng dầu FO, than đá và một số thiết bị đốt, nung, nung chảy áp dụng ngưỡng khí thải từ 80.000 m³/giờ trở lên.

Riêng thiết bị, lò nung nấu tái chế chì, tổng công suất từ 800 kg/giờ trở lên thuộc diện phải quan trắc tự động, liên tục.

Những con số này cần được hiểu đúng: Nghị quyết không đánh đồng tất cả nguồn phát thải mà thiết kế ngưỡng theo đặc điểm công nghệ và quy mô từng loại nguồn.

Than cốc, nhiệt điện, xi măng cũng nằm trong diện giám sát chặt

Đối với sản xuất than cốc, khí than, các thiết bị luyện cốc có hoặc không thu hồi sản phẩm phụ, dập cốc khô và khí hóa than thuộc diện áp dụng từ mức 80.000 m³/giờ trở lên, tính tổng các thiết bị cùng loại.

Trong lĩnh vực nhiệt điện, thiết bị đốt thuộc phạm vi quy định phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục khi tổng công suất phát điện từ 40 MW trở lên, ngoại trừ trường hợp được Nghị quyết xác định riêng đối với nhà máy sử dụng hoàn toàn nhiên liệu khí đốt, dầu DO.

Đối với sản xuất xi măng, lò nung và các thiết bị làm nguội clinker, nghiền than, nghiền xi măng thuộc ngưỡng 80.000 m³/giờ trở lên.

Nghị quyết còn bao quát các dự án, cơ sở khác thuộc nhóm có nguy cơ gây ô nhiễm theo pháp luật môi trường, nếu sử dụng các thiết bị đốt, nung, nung chảy, gia nhiệt, lò hơi hoặc lò dầu tải nhiệt bằng dầu FO, than đá và đạt tổng lưu lượng từ 80.000 m³/giờ trở lên.

Không được “tách nhỏ nguồn thải” để đứng dưới ngưỡng

Một điểm kỹ thuật lập quy nhưng rất quan trọng tại Điều 3 là cách xác định mức lưu lượng. Đối với bụi, khí thải, mức lưu lượng hoặc công suất thiết kế được xác định theo giấy phép môi trường. Nếu một dự án hoặc cơ sở có nhiều công trình, thiết bị cùng loại, lưu lượng không được tính riêng từng thiết bị mà phải tính theo tổng lưu lượng của các công trình, thiết bị cùng loại.

Quy định này ngăn cách hiểu máy móc rằng mỗi thiết bị đều dưới ngưỡng thì toàn cơ sở không phải thực hiện quan trắc, trong khi tổng nguồn phát thải thực tế có thể rất lớn.

Vì vậy, đối với doanh nghiệp, việc đầu tiên cần làm không chỉ là nhìn vào từng ống khói hay từng công trình xử lý, mà phải rà soát toàn bộ hệ thống thiết bị cùng loại và giấy phép môi trường hiện hành.

Cơ sở đang hoạt động có lộ trình đến cuối năm 2028

Nghị quyết đồng thời tính đến tính khả thi về đầu tư thiết bị. Đối với dự án, cơ sở đang hoạt động trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, nếu thuộc đối tượng phải quan trắc tự động, liên tục thì thời hạn hoàn thành việc lắp đặt, đưa hệ thống vào vận hành, kết nối và truyền dữ liệu là chậm nhất ngày 31/12/2028.

Khoảng thời gian chuyển tiếp này có ý nghĩa đối với những cơ sở đang vận hành, bởi hệ thống quan trắc tự động không chỉ đòi hỏi đầu tư thiết bị mà còn liên quan đến vị trí lắp đặt, kiểm định, hiệu chuẩn, đường truyền dữ liệu và tích hợp vào hệ thống quản lý môi trường.

Tuy nhiên, đối với công trình, thiết bị đưa vào vận hành sau ngày Nghị quyết có hiệu lực, yêu cầu nghiêm ngặt hơn: hệ thống quan trắc tự động, liên tục phải được lắp đặt, vận hành, kết nối và truyền dữ liệu trước khi công trình, thiết bị được đưa vào vận hành.

Như vậy, Nghị quyết tạo khoảng chuyển tiếp cho cơ sở cũ nhưng đặt chuẩn tuân thủ ngay từ đầu đối với nguồn phát thải mới.

Dữ liệu quan trắc phải trở thành công cụ quản lý, không phải chỉ là dữ liệu lưu trữ

Một hệ thống quan trắc có giá trị khi dữ liệu thực sự được sử dụng. Nghị quyết giao UBND Thành phố tổ chức quản lý, tiếp nhận, kết nối, khai thác và sử dụng dữ liệu quan trắc để phục vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; đồng thời thực hiện kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

Đây được xem là một điểm quan trọng trong cách thức tổ chức thi hành. Nếu dữ liệu được tiếp nhận theo thời gian liên tục và được khai thác đúng cách, cơ quan quản lý có thể chuyển dần từ phương thức “đến kiểm tra mới biết” sang phương thức “nhìn thấy tín hiệu bất thường để chủ động kiểm tra”.

Vì thế, quan trắc tự động không chỉ là câu chuyện thiết bị. Phía sau thiết bị là một hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu.

Bảo vệ môi trường phải được nhìn trong không gian của cả vùng đô thị

Một quy định đáng chú ý khác tại Điều 5 là trách nhiệm của UBND Thành phố phối hợp với UBND cấp tỉnh của các địa phương thuộc vùng đô thị đặc biệt trong việc kết nối, chia sẻ dữ liệu và các nội dung bảo vệ môi trường có liên quan theo Luật Phát triển đô thị.

Điều này xuất phát từ một thực tế rất rõ: nước thải, nguồn nước, chất lượng không khí và các tác động môi trường không dừng lại ở đường ranh hành chính.

Quản trị một vùng đô thị lớn, cần đi cùng cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp giám sát. Đây cũng là một trong những điểm cho thấy Luật Phát triển đô thị không chỉ trao cơ chế riêng cho từng địa phương mà còn thúc đẩy tư duy quản lý theo không gian phát triển liên kết.

Ban Đô thị HĐND Thành phố: thẩm tra để chính sách vừa đủ chặt, vừa thực hiện được

Nghị quyết số 61 được HĐND Thành phố thông qua sau khi xem xét Tờ trình của UBND Thành phố, Báo cáo thẩm tra số 146/BC-BĐT của Ban Đô thị HĐND Thành phố và các ý kiến thảo luận tại kỳ họp.

Với một chính sách như quan trắc tự động, liên tục, câu chuyện không đơn giản là lựa chọn “quản chặt” hay “quản lỏng”. Nếu ngưỡng được đặt quá thấp, rất nhiều cơ sở có quy mô nhỏ phải đầu tư hệ thống với chi phí lớn trong khi tác động môi trường không tương xứng. Ngược lại, nếu ngưỡng quá cao, chính sách có thể bỏ sót những nguồn thải cần được giám sát.

Vì thế, giá trị của hoạt động thẩm tra nằm ở việc xem xét đồng thời cơ sở pháp lý, đặc điểm từng nguồn phát thải, ngưỡng kỹ thuật, tính khả thi đối với doanh nghiệp, lộ trình thực hiện và khả năng tiếp nhận, quản lý dữ liệu của cơ quan nhà nước.

Đó cũng là vai trò ngày càng rõ nét của Ban Đô thị HĐND Thành phố trong quá trình triển khai Luật Phát triển đô thị: từ thẩm tra các quy định mang tính nguyên tắc, đến góp phần hoàn thiện những cơ chế có thể vận hành được trong đời sống đô thị.

Có cơ chế giám sát và điều chỉnh chính sách sau khi thực hiện

Nghị quyết không xem các ngưỡng hiện hành là những con số bất biến. Theo đó, UBND Thành phố có trách nhiệm theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện; tổng hợp khó khăn, vướng mắc và báo cáo HĐND Thành phố xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung khi cần thiết.

Quá trình triển khai còn chịu sự giám sát của Thường trực HĐND Thành phố, các Ban HĐND Thành phố, các Tổ đại biểu, đại biểu HĐND Thành phố và với sự tham gia giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam Thành phố và các tổ chức thành viên.

Đây là cơ chế cần thiết bởi công nghệ xử lý, quy mô sản xuất và yêu cầu quản lý môi trường có thể thay đổi. Một chính sách tốt không chỉ cần đúng ở thời điểm ban hành mà còn phải có khả năng được đánh giá và điều chỉnh bằng chính dữ liệu phát sinh trong quá trình thực hiện.

Khi mỗi nguồn thải lớn đều có một “dấu vết dữ liệu”

Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND chính thức có hiệu lực từ ngày 01/10/2026. Nhìn toàn bộ Nghị quyết, có thể thấy điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở các ngưỡng 400 m³/ngày, 800 m³/ngày, 80.000 m³/giờ, 40 MW hay các mức công suất lò đốt - Phía sau những con số ấy là một thay đổi về phương thức quản trị.

Mỗi nguồn phát thải lớn sẽ dần phải để lại một “dấu vết dữ liệu” liên tục. Nhà nước có thêm công cụ để quản lý. Doanh nghiệp có thêm trách nhiệm nhưng đồng thời cũng có dữ liệu khách quan để chứng minh mức độ tuân thủ. Người dân có thêm một lớp bảo đảm đối với chất lượng môi trường nơi mình sinh sống.

Từ quá trình thẩm tra của Ban Đô thị HĐND Thành phố và quyết nghị chính sách của HĐND Thành phố đến việc tổ chức thực hiện của UBND Thành phố, Nghị quyết số 61 cho thấy cách Luật Phát triển đô thị đang từng bước được cụ thể hóa bằng những công cụ quản lý rất cụ thể.

Mục tiêu cuối cùng không phải là lắp thêm bao nhiêu thiết bị quan trắc, mà là phát hiện nguy cơ sớm hơn, kiểm soát nguồn thải chặt chẽ hơn, làm rõ trách nhiệm hơn và từng bước xây dựng một môi trường đô thị an toàn, minh bạch, đáng sống hơn cho người dân Thành phố Hồ Chí Minh./.

Châu Vũ - Hải Yến.

Tìm kiếm

Xem nhiều

Tin cùng chuyên mục

TỪ THẨM TRA CỦA BAN ĐÔ THỊ HĐND THÀNH PHỐ ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐI VÀO CUỘC SỐNG: MỞ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ LÒNG ĐẤT

Với Nghị quyết số 58/2026/NQ-HĐND, TP. Hồ Chí Minh lần đầu thiết lập tương đối đầy đủ một khuôn khổ chính sách cho việc quản lý, khai thác và sử dụng không gian ngầm, từ giới hạn độ sâu được sử dụng không phải trả tiền, điều kiện khai thác phần lòng đất sâu hơn, cơ chế xử lý khi chưa có quy hoạch đến các chính sách khuyến khích đầu tư và nghĩa vụ tài chính. Nghị quyết là một bước cụ thể hóa quan trọng Luật Phát triển đô thị, đồng thời mở thêm dư địa phát triển cho một đô thị đặc biệt đang ngày càng chịu sức ép lớn về đất đai, giao thông và hạ tầng.
BAN ĐÔ THỊ HĐND THÀNH PHỐ: TỪ LUẬT PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN THỰC TIỄN - TP. HỒ CHÍ MINH HOÀN THIỆN CƠ CHẾ XỬ LÝ CÔNG TRÌNH, CƠ SỞ VI PHẠM

Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại Kỳ họp thứ năm, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND quy định việc áp dụng biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
KHỞI CÔNG DỰ ÁN XÂY DỰNG MỚI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ 2 (GIAI ĐOẠN 2)

Ngày 02 tháng 10 năm 2026 – Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Dân dụng và Công nghiệp tổ chức Lễ khởi công dự án Xây dựng mới Trường Cao đẳng nghề Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 2 (Giai đoạn 2) tại số 48/43 đường Chương Dương, phường Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở vật chất giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật cho Thành phố trong giai đoạn mới.
Quy hoạch 100 năm TP.HCM  phải nhìn rừng như một tài sản tự nhiên có giá trị lâu dài

Rừng TP.HCM trải dài từ Cần Giờ, Côn Đảo đến những cánh rừng nội địa, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng gắn với biển, đất ngập nước và không gian đô thị. Rừng chiếm 10,74% diện tích TP.HCM, tương đương 72.720 ha trên tổng diện tích 677.259 ha, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Các khu rừng phân bố từ ven biển đến nội địa, từ hải đảo đến đất liền; trong đó có những khu đồng thời là Khu Ramsar, Khu Vườn di sản ASEAN và Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Quy hoạch 100 năm không chỉ đặt câu hỏi thành phố sẽ phát triển đến đâu, mà còn phải xác định những không gian tự nhiên nào cần được giữ lại lâu dài.

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH