Ngày 30/10/2026, HĐND Thành phố Hồ Chí Minh thông qua 04 nghị quyết về di sản văn hóa trong nhóm nghị quyết triển khai Luật Phát triển đô thị. Các chính sách tạo sự kết nối giữa xác định danh mục cần ưu tiên bảo vệ, hỗ trợ nguồn lực tôn tạo, chăm lo người thực hành di sản và quy định trình tự, thủ tục bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt.
Việc ban hành các nghị quyết cụ thể hóa nhiệm vụ được giao tại Điều 26 Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16; đồng thời gắn với định hướng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và yêu cầu gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa trong không gian Thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Xác định rõ hệ thống di sản cần tập trung nguồn lực bảo vệ
Nghị quyết ban hành danh mục di sản, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc và công trình khác có giá trị xác định những đối tượng cần tập trung nguồn lực để bảo vệ, phát huy giá trị: Ban hành kèm theo Nghị quyết có 12 phụ lục, bao quát cả di sản vật thể và phi vật thể, các khu vực, tuyến đường, biệt thự và công trình có giá trị.
Theo danh mục, có 03 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, 15 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 04 di tích quốc gia đặc biệt, 100 di tích quốc gia, 217 di tích cấp Thành phố, 227 di tích trong danh mục kiểm kê và 23 bảo vật quốc gia. Danh mục còn bao gồm nghề, làng nghề truyền thống; các tuyến đường, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử; 63 biệt thự nhóm 1, 234 biệt thự nhóm 2 và 64 tượng đài, tranh hoành tráng.
Đây là cơ sở để nhận diện, quản lý thống nhất và lựa chọn trọng tâm đầu tư, bảo vệ. Giá trị của nghị quyết không chỉ nằm ở việc tập hợp các danh mục mà còn ở khả năng làm căn cứ cho kế hoạch bảo tồn, phân bổ nguồn lực và cập nhật các đối tượng có giá trị trên toàn địa bàn Thành phố.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tôn tạo và bảo vệ
Nghị quyết về cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, cá nhân tôn tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị quy định các nội dung hỗ trợ theo từng loại đối tượng. Đối với khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, chính sách gồm năm nhóm: điều tra, khảo sát, kiểm kê và lập hồ sơ tư liệu; lập quy hoạch, thiết kế đô thị và quy chế quản lý kiến trúc; hoàn thiện, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật trực tiếp; thuê chuyên gia tư vấn, đào tạo nghề truyền thống và tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng; xúc tiến, quảng bá trên hệ thống truyền thông Thành phố.
Nghị quyết đồng thời xác lập nguyên tắc bảo tồn các yếu tố gốc có giá trị, công khai, minh bạch và hài hòa giữa bảo tồn với phát triển. Ngân sách Thành phố đóng vai trò hỗ trợ, dẫn dắt, khuyến khích chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng hợp pháp và các tổ chức, cá nhân cùng tham gia bảo vệ, phát huy giá trị thay vì chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước.
Hỗ trợ thiết thực cho người thực hành và trông coi di sản
Nghị quyết về chính sách ưu đãi, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thực hành bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tập trung vào hai nhóm chính sách cụ thể: Đối với câu lạc bộ thực hành di sản văn hóa phi vật thể, mức hỗ trợ khi thành lập mới là 50 triệu đồng/câu lạc bộ để mua sắm trang thiết bị, đạo cụ phục vụ thực hành, truyền dạy, sáng tạo, trình diễn. Kinh phí hoạt động hằng năm là 10 triệu đồng đối với câu lạc bộ dưới 20 thành viên và 20 triệu đồng đối với câu lạc bộ từ 20 thành viên trở lên.
Đối với người trực tiếp trông coi di tích không thuộc sở hữu toàn dân đã được xếp hạng, chính sách hỗ trợ hằng tháng bằng một lần mức lương tối thiểu tháng của vùng I do Chính phủ quy định. Các mức hỗ trợ nêu trên theo hồ sơ dự thảo trình kỳ họp, cần đối chiếu văn bản chính thức trước khi đăng tải.
Chính sách cho thấy sự quan tâm không chỉ đến công trình, hiện vật mà còn đến những người duy trì hoạt động thực hành, bảo vệ và trao truyền di sản. Việc hỗ trợ theo đối tượng và quy mô hoạt động cũng tạo cơ sở để tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách.
Quy định trình tự, thủ tục tu bổ, phục hồi di tích theo thẩm quyền
Nghị quyết về trình tự, thủ tục bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt cụ thể hóa thẩm quyền được giao tại điểm c khoản 2 Điều 26 Luật Phát triển đô thị. Nội dung điều chỉnh bao gồm việc lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh nhiệm vụ lập quy hoạch di tích, quy hoạch di tích; tham gia ý kiến chuyên ngành; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công của các dự án có liên quan.
Việc thiết lập trình tự thực hiện ở cấp Thành phố nhằm tạo cơ sở giải quyết công việc theo thẩm quyền, đồng thời bảo đảm yêu cầu tham vấn cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở Trung ương và tuân thủ pháp luật về di sản văn hóa, xây dựng và các quy định liên quan.
Thẩm tra hướng đến tính đồng bộ, khả thi khi triển khai
Qua thẩm tra bốn dự thảo nghị quyết, Ban Văn hóa - Xã hội HĐND Thành phố tập trung xem xét sự cần thiết, thẩm quyền, tính thống nhất pháp luật và điều kiện thực hiện; đồng thời kiến nghị triển khai đồng bộ danh mục di sản với các chính sách hỗ trợ, xác định trọng tâm và thứ tự ưu tiên nguồn lực, tránh dàn trải hoặc trùng lặp. Ban cũng đề nghị tiếp tục rà soát, cập nhật các di sản, biệt thự, công trình kiến trúc có giá trị, đặc biệt tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây; làm rõ trách nhiệm quản lý, bảo vệ và kiểm tra hiệu quả sử dụng kinh phí hỗ trợ.
Nhìn tổng thể, bốn nghị quyết tạo thành chuỗi chính sách có tính bổ trợ: xác định đối tượng cần bảo vệ, tạo điều kiện huy động nguồn lực, hỗ trợ chủ thể thực hành và hoàn thiện quy trình bảo quản, tu bổ di tích. Đây là nền tảng để Thành phố Hồ Chí Minh bảo tồn di sản có trọng tâm, đồng thời đưa các giá trị văn hóa, lịch sử tiếp tục hiện diện và phát huy trong đời sống cộng đồng và quá trình phát triển Thành phố.
Duyên An.